Twofaces
Youtube Master Race
Nguồn:board.truyentranh.com
Fate/stay night
Tựa đề : Fate/stay night
Đạo diễn : Yuuji Yamaguchi
Tác giả :Kinoko Nasu/TYPE-MOON
Nhà sản xuất : Fate Project/Studio Deen
Âm nhạc : Kenji Kawai
Thể loại : Giả tưởng/Phiêu lưu/Hành động
Rating : BA - 17
Định dạng : TV series
Độ dài : 25 phútx24 tập
Mở đầu:
Sự kiện trong Fate/stay night xảy ra với 1 cậu học sinh trung học 16 tuổi,Shirou Emiya,là cư dân ở Fuyuki City,nơi mà câu chuyện diễn ra.Cha mẹ của Shirou đã bị chết trong 1 đám cháy khi cậu còn nhỏ và cậu đc nhận nuôi bởi Kiritsugu Emiya,một người đàn ông bí ẩn tự gọi mình là 1 pháp sư.Ko lâu sau Kiritsugu cũng qua đời.
Cả Shirou và các cư dân khác của Fuyuki City đều ko biết,thành phố của họ là chiến trường của 1 cuộc chiến bí mật.Vào 1 thời điểm,các pháp sư từ khắp nơi tập hợp lại cùng nhau cùng với các Servant của họ - các linh hồn anh hùng trong truyền thuyết được triệu tập ,họ tồn tại vượt ra ngoài thời gian - cùng chiến đấu để giành lấy Holy Grail (Chén Thánh),một cổ vật đc cho rằng sẽ ban cho người sở hữu 1 điều ước.Tên thật của các Servant sẽ chỉ ra các điểm yếu của họ,nên họ thường đc nhắc đến theo các class của họ như : Saber,Archer,Rider,Berserker,Lancer,Caster, và Assassin.
Một ngày khi trở lại lại lau dọn đạo trường(dojo) của câu lạc bộ bắn cung,Shirou bất chợt nhìn thấy 2 Servant ,Archer và Lancer,đang giao chiến trên sân trường.Để bảo toàn bí mật cho cuộc chiến,Lancer đã định giết Shirou,nhưng 1 cô gái ,cho đến lúc đó vẫn chỉ có vẻ là 1 bạn cùng lớp bình thường của Shirou,Rin Tohsaka ,đã cứu sống cậu bằng 1 mặt dây chuyền phép thuật.Và khi cậu về nhà,vẫn chưa hết bất ngờ,cậu lại bị tấn công bởi Lancer.Ngay khi Shirou tưởng như cầm chắc cái chết,một Saber-class servant xuất hiện trước mặt cậu,và hỏi cậu :"Tôi hỏi anh,anh có phải Master của tôi ko ?"
Không còn cách nào khác,Shirou đã bị lôi kéo sâu hơn vào Grail War....
Nhân vật :
-Shirou Emiya
Nhân vật chính của câu chuyện.Một cậu học sinh rất nghêm túc và trung thực,chăm chỉ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.Là học sinh trung học năm thứ 2,có sở thích sửa chữa các đồ vật hỏng(từ 1 cái tivi đến 1 cái bếp lò),nấu ăn và dọn dẹp.Cậu chỉ có 1 chút khả năng phép thuật trong các phép thuật hỗ trợ (tăng tính sắc bén của 1 thanh kiếm hay độ bền của 1 cái khiên),vì cha nuôi của cậu ,Kiritsugu Emiya ko khuyến khích cậu đi theo con đường này.Ban đầu,cậu bị giằng co giữa 2 điều :ước muốn đoạt đc Holy Grail để kết thúc Grail War và ko muốn ai bị thương hay gặp nhuy hiểm trong cuộc chiến,kể cả với Servant của cậu,Saber.
Kiritsugu Emiya:
Seiyuu cho Shirou là Noriaki Sugiyama,English voice bởi Sam Riegel
-Saber
Là Servant của Shirou,một chiến binh ko chỉ nhanh nhẹn mà còn rất mạnh mẽ.Saber trung thành,độc lập,trầm lặng và ít nói;cô có 1 vẻ ngoài lạnh lùng nhưng thật ra cô hạn chế cảm xúc để hướng tới mục tiêu của bản thân.Class của Saber được coi là "Most Oustanding",và được đánh giá là xuất sắc .Vì Master của cô,Shirou, ko thể cung cấp đủ Mana cho cô,Saber thu hẹp khả năng của mình lại để thích nghi với những gì mình có .Saber luôn bị sức ép với việc bảo vệ an toàn cho Shirou,và cô tin rằng những hành động thiếu thận trọng,thất thường và liều mạng của Shirou sẽ làm giảm đi khả năng chiến thắng trong Holy Grail War.
Seiyuu cho Saber là Ayako Kawasumi,English voice bởi Kate Higgins
-Rin Tohsaka
Một học sinh gương mẫu và là thần tượng ở trường,Rin thật ra là 1 pháp sư và Master trong Holy Grail War.Cô là người thuộc 1 dòng dõi phù thủy lâu đời,do đã nhận được 1 sự dạy dỗ về pháp thuật căn bản,nên khả năng phép thuật của Rin rất mạnh.Cha của cô đã bị giết trong Holy Grail War lần thứ 4,và Rin đã không ngừng rèn luyện từ khi ông chết để tiếp tục kế thừa nhưng gì ông để lại.Cô là 1 con người nhạy bén,giỏi ứng phó và sẵn sàng ganh đua.Mặc dù Rin cố summon 1 Servant thuộc Saber - class,thay vào đó Rin bất ngờ gọi được Archer
Seiyuu cho Rin hoàn thành bởi Kana Ueda,English voice bởi Mela Lee
-Archer
Anh là Servant của 1 trong số các nữ nhân vật chính,Rin Tohsaka.Do 1 sự summon chưa hoàn thành,anh không có chút ký ức nào về quá khứ cũng như bản thân .Archer là một người hay châm biếm và hoài nghi - nhưng bên dưới vẻ ngoài khó gần lại ẩn chứa 1 sự phức tạp và có thân phận bí ẩn ko được biết rõ qua suốt cả câu chuyện.Do kỹ năng với vũ khí tầm xa,Archer bị giới hạn trong cận chiến.Archer coi ý tưởng của Shirou Emiya là yếu đuối và hão huyền,nhận thấy mong muốn "bảo vệ tất cả mọi người" của Shirou là ngây thơ và không thể thực hiện.
Seiyuu cho Archer thực hiện bởi Junichi Suwabe,English voice bởi Liam O'Brien.
-Illyasviel von Einzbern
Illyasviel von Einzbern,thường được gọi là Ilya.Do mái tóc trắng và đôi mắt đỏ.Cô bé được coi là bị bạch tạng (albino 65.gif ).Là 1 cô bé thuộc dòng dõi quý tộc Đức,đến Nhật để tham gia Holy Grail War trong vai trò một Master.Illyasviel có một vẻ ngoài của 1 cô bé dễ thương, hồn nhiên và tinh quái hơn là một Master.Cô sống trong 1 lâu đài ở ngoại vi Fuyuki City,cùng với Servant của cô : Berserker và 2 cô hầu.Illyasviel yêu cầu nhưng người nào cô bé cảm thấy dễ gần gọi mình là "Ilya".Mẹ của cô bé,Irisviel von Einzbern,đã chiến đấu chống lại Saber và Kiritsugu Emiya trong Holy Grail War trước.
Theo cung cấp của pác Tama : chuyện mẹ của Ilya,hình như hồi trước là romatic involve với cha Shirou chứ ko phải chiến đấu chống 04.gif,Ilya căm giận Kiritsugu là vì ông đã bỏ đi (vì pác Tama hiểu biết về FSN hơn Kei nên để nguyên 04.gif )
Đây là hình của Irisviel von Einzbern
Seiyuu cho Ilya là Mai Kadowaki ,English voice bởi Stephanie Sheh
-Berserker
Servant của Ilya,anh ta là 1 người khổng lồ với thân hình lực lương và làn da sắt đá.Anh ta cầm 1 chùy đá vĩ đại,với khả năng gây ra sự tàn phá lớn khi Berserker chém loạn xạ (hoàn toàn chính xác 0T.gif ).Đúng như tên gọi,anh hoàn toàn mất hết lý trí và điên loạn,hành động hoàn toàn bản năng trong chiến đấu.Berserker được xếp vào loại class "Strongest",do khó có thể điều khiển được anh.(Berserker chính là Hercules trong thần thoại Hy Lạp,ai từng đọc Greek Mythology chắc cũng biết lý do điên loạn của Berserker 65.gif ).Mặc dù vậy,Ilya ko gặp khó khăn gì mấy với việc điều khiển Berserker.
Cũng theo Tama-news 10.gif : Berserker tuy nói là mạnh nhất nhưng thực ra là class đòi hỏi stat đầu vào thấp nhất,nên đó vừa là class strongest, vừa là class crappiest (tùy vào heroic spirit nào được summon)
Saiko no Servant (strongest Servant) là bản thân Herakles, chưa chắc toàn bộ Berserker đều là strongest @__@
Seiyuu cho Berserker là Tadahisa Saizen,English voice bởi Michael McConnohie
-Shinji Matou
Anh của Sakura,và là 1 người bạn cũ của Shirou.Mặc dù có tự ái cao và khá cực đoan,Shinji rất nổi tiếng với danh hiệu Vice-Captain của Archery Dojo.Giống như Rin,hắn cũng xuất thân từ 1 dòng dõi phù thủy lâu đời,mặc dù nhà Matou đã ko còn ai thừa kế xứng đáng để là 1 pháp sư.Shinji cảm thấy khó chịu với việc Sakura đến nhà Shirou mỗi ngày.Hắn đã cũng tỏ tình với Rin,nhưng cô đã ko thèm đáp lại (nếu Rin ko thế chưa chắc thằng Shinji thành 1 Master tởm lợm vậy đâu,nhưng ,chuyện tình cảm ko thể ép buộc 04.gif )
Seiyuu cho Shinji thực hiện bởi Hiroshi Kamiya,English voice bởi Doug Erholtz
-Rider
Cô ta là Servant của Shinji,lần đầu tiên được nhìn thấy khi đang theo dõi quanh Homurabara Gakuen.Rider luôn giữ yên lặng,cảnh giác theo dõi (và có vẻ ngoài rất nóng bỏng ,đầy cám dỗ 65.gif ),ko bao giờ có ý định bảo vệ Master của mình khỏi nguy hiểm.Vì khả năng của Shinji ko thể cung cấp mana cho cô,Rider buộc phải tìm các mục tiêu là người khác ,tấn công và cướp lấy linh hồn để tự cung cấp mana cho mình.Rider luôn tìm cách lợi dụng lợi thế về địa hình trong chiến đấu.Vũ khí mà cô ta chọn là cặp dùi sắt dài được nối vào nhau bởi 1 sợi xích,giúp cô ta có thể gây thiệt hại cho đối thủ từ xa
Seiyuu cho Rider thực hiện bởi Yu Asakawa,English voice bởi Karen Strassman
Các nhân vật phụ : (chỉ xét trên anime)
-Sakura Matou
Học sinh năm thứ nhất trung học,là em gái của Shinji Matou.Sau khi cha của Shirou,Kiritsugu chết, Sakura thường lui tới nhà Shirou để giúp cậu ta làm việc nhà.Cô có vẻ ngoài khá ngượng ngùng và nhút nhát,nhưng ẩn chứa bên trong là 1 sức mạnh ko ngờ.(Rõ ràng là Sakura có tình cảm từ rất lâu với Shirou Emiya,nhưng như mọi nhân vật nam chính khác của A_M,Shirou "ngu ngốc hay giả vờ ngu ngốc" và ko nhận ra tình cảm đó (spoile 65.gif )).
Seiyuu của Sakura là Noriko,English voice bởi Sherry Lynn
-Kirei Kotomine
Do 1 thỏa thuận giữa Hiệp hội các Pháp sư (Mages' Association) và Nhà thờ,Holy Grail War được điều hành bởi 1 linh mục.Cha của Kirei là người điều hành của Holy Grail War lần thứ 4,và khi ông ta chết,Kirei cảm thấy mình có trách nhiệm phải thay thế cha mình.Sự lựa chọn Kirei làm người điều hành (người giới thiệu,giải thích luật lệcho những người tham gia Grail War,và còn nắm giữ lịch sử của Grail War nữa) là 1 điều bất thường,vì Kirei là thành viên của cả nhà thờ và Mages' Association,những tổ chức luôn có khuynh hướng thù địch nhau.Kể từ cái chết của cha Rin,Kirei cũng hành động như 1 người giám hộ ko chính thức của Rin.(Mặc dù ở thứ hạng thấp theo hệ thống thứ hạng của Nhà thờ hơn Ciel (Tsukihime),Kirei sử sụng rất nhiều vũ khí và kĩ năng giống Ciel (spoile 65.gif )).
Seiyuu cho Kotomine thực hiện bởi Jouji Nakata,Engkish voice bởi Taylor Henry
Nhân vật đặc biệt:
Urk Gilgamesh
Tên này hình như rất mến mộ Saber,suốt phim hắn chỉ có một điều kiện là bắt buộc Saber phải trở về Spirit World với hắn thôi,có vẻ không hứng thú lắm với Holy Grail
Một Servant thuộc lớp Archer-class , tính tình ích kỷ , kiêu ngạo và đầy bí ẩn .Từng tham gia Holy Grail War 10 năm trước , giờ đây cùng với Kotomine thực hiện âm mưu ngầm do họ vạch ra trong Holy Grail War lần này .
Với cách ăn nói vô cùng kiêu ngạo và ngang tàng của một Hero – King of Ancient Uruk , ở cuộc chiến Holy Grail War 10 năm về trước , Gilgamesh đã cầu hôn Saber ( chắc chắn với một giọng điệu sặc mùi chiếm hữu nô lệ theo kiểu “Người phụ nữ đó thuộc về ta , Đức Vua này ” như anh ta vẫn thường nói ) , và đương nhiên anh nhận được một nhát kiếm của Saber – Arthur king cùng với lời từ chối .
Gilgamesh hầu như chưa từng nghi ngờ gì về việc sẽ chiếm được saber dù sớm hay muộn ,nhưng có lẽ lần này vị Hero – King hầu như chưa bao giờ thất bại trong việc chiếm lấy một thứ gì trên đời đã gặp một ngoại lệ đầu tiên trong đời . Dù sao cuối cùng anh ta cũng biết cách bày tỏ tình cảm theo một kiểu romantic hơn ( các boy thời nay cũng nên nhìn vào tấm gương của anh ta mà lựa lời tỏ tình hợp thời trang 1 chút , lạc hậu tư tưởng quá coi chừng lâm vào bi kịch đáng buồn của tiền nhân ....).
Gilgamesh còn được biết đến với khả năng sử dụng rất nhiều Noble Phantasm , mặc dù trong số đó không có chiêu nào tiết lộ về danh tánh của Gil cả .
*Noble phantasm :
-Urk Gilgamesh
"Gate of Babylon": Kho báu vương triều
Một thanh gươm nhỏ đóng vai trò như chìa khóa , cho phép Gilgamesh kết nối vào kho tàng khổng lồ của mình ở chính trung tâm thành phố Babylon cổ xưa , bên trong là vô số vũ khí được thu thập vào lúc đỉnh cao của vương triều Uruk .Gilgamesh có thể bắn các vũ khí này hoặc phóng chúng ra như tên lửa . Các cổ vật này sẽ biến trở lại vào kho tàng sau 1 khoảng thời gian nào đó . Bởi vì ko quen sử dụng các vũ khí này ,Gilgamesh đơn thuần chỉ bắn chúng ra như những viên đạn . Chính Noble Phantasm này đã ấn định Gilgamesh là 1 Archer-class Servant .
Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: E (C)
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Riêng Gil không thể vô hiệu phép thuật. Tuy nhiên trong cuộc chiến lần 4, trước khi bị chất độc trong Chén Thánh nhiễm vào người, anh ta có thể kháng cự lại phép thuật với thần chú từ khoảng hai đoạn hoặc ít hơn.
* Hành động độc lập:
Hạng: A+ (A)
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Kể từ khi bị biến thành một Servant ngoại lai do tác động của Chén Thánh, anh ta không còn phải nhờ đến mana từ Master để duy trì sự hiện hữu của mình trong thế giới này. Thay vào đó, Gilgamesh phải sống bằng sinh lực của con người, đặc biệt là trẻ em, để duy trì cơ thể. Ngay cả trước khi bị chuyển hóa, anh ta đã sở hữu một lượng lớn khả năng hành động độc lập, trở thành Servant hoàn hảo trong việc chiến đấu mà không cần sự hỗ trợ từ Master, mặc dù vẫn phải được cung cấp thêm mana để sử dụng Noble Phantasm đến mức tối đa.
* Quy luật vàng:
Hạng: A
Xuyên suốt con đường của lịch sử cũng như thần thoại, những cá nhân được ban tặng may mắn lớn lao, kho báu chất chồng không đếm xuể đều được xác định là những người sở hữu Quy Luật Vàng (Golden Rule) . Trong số họ, Gil là người duy nhất đứng trên ngai vị của sự giàu sang tột đỉnh, nhờ đó anh luôn có đủ của cải để phung phí vào bất cứ thứ gì anh muốn trong bất kỳ thời đại nào anh được gọi lên.
* Khả năng lãnh đạo:
Hạng: A+
Tài năng bẩm sinh để chỉ huy quân đội. Như để bổ sung cho tiền tài của vị vua, Gilgamesh cũng sở hữu thiên bẩm cao sang nhất. Với khả năng đáng kinh ngạc này, anh ta có thể tiếp thêm sinh khí và chỉ đạo mọi đội quân ở bất cứ kích cỡ nào. Gil truyền cho họ một niềm tự hào cũng như lòng tôn kính đối với anh và mục tiêu của anh đến nỗi hiệu quả của họ trong trận đánh tăng thêm đáng kể.
* Gốc gác thần thánh:
Hạng: B (A+)
Đẳng cấp của thần linh hiện hữu trong dòng máu của các sinh vật. Rất nhiều sức mạnh của Gilgamesh bắt nguồn từ huyết thống. Trong vô vàn hình tượng thần thoại trích từ lịch sử nhân loại, anh ta là người sở hữu gốc gác cao quý nhất, khi có đến 2/3 huyết thống của thần linh. Tuy nhiên, vì những hành động thách thức và ngạo mạn trong cuộc đời trước, cũng như sự bất kính với các vị thần chủ chốt, khiến cho Gil bị nhiều thần linh khinh miệt, và để chịu trừng phạt cho hành động của mình, thần tính của Gil bị giảm đến cả một bậc.
"Enuma Elish -Ea":Tinh tú sáng tạo chia rẽ Đất-Trời
Một lưỡi đao chạm khắc những ký tự ma thuật màu đỏ thẫm viết bằng ngôn ngữ Sumer . Với nguồn năng lượng lớn hơn nhiều so với thanh Excalibur của Saber , sự xoay chuyển của 3 lưỡi đao từ thanh Ea nén hút toàn bộ không khí xung quanh ,phóng thích một vụ nổ rung chuyển cả đất trời . Vì chất liệu tạo ra Ea không có ở thế giới phàm trần , nên nó ko thể được tạo ra bằng UBW của Shirou . Đây là Noble Phantasm mạnh nhất trong khả năng của Gilgamesh . Cái tên Enuma Elish là để ám chỉ anh hùng ca về sự sáng tạo ra Babylon , và Ea là tên của thần nước bảo hộ cho Babylon
"Enkidu":Sợi xích thiên đường
Một trong những thánh tích Gil từng sử dụng trong cuộc đời thực của mình .Vũ khí này được rèn chuyên dùng để trói thần linh ,do vậy nó giảm đi rất nhiều tác dụng khi dùng với địch thủ có ít hoặc ko có thần tính .Mặc dù ko phải là một Noble Phantasm thực thụ , Endiku là vũ khí mà Gil tin tưởng nhất . Được lấy tên để tưởng nhớ bạn cũ của Gil (Endiku), và là sợi xích trói Bò Thần trong truyền thuyết Babylon
"Merodach":Cội nguồn tội lỗi
Một thanh kiếm tuy ko tô điểm nhưng vẫn rực sáng ,đồng thời chứa đựng sức mạnh ma thuật rất lớn .Đây là thanh kiếm gốc tạo nên thanh gươm tà ác lừng danh Gram trong thần thọai Bắc Âu , cũng dc. biết đến với 2 cái tên Balmung và Nothung .Tiếp đó ,Caliburn -thanh kiếm vàng được Vua Arthur rút ra khỏi một viên đá- lại được chế tạo từ 1 phần sơ đồ của thanh Gram .Mặc dù ko nổi danh như 2 đàn em của mình ,sức mạnh của Merodach vượt xa cả Gram và Caliburn .Cái tên của cây kiếm này tôn vinh vị thần chủ của người Sumer cổ ,và cũng là thần bảo hộ cho Babylon-Merodach.
Durendal :
Thanh thánh kiếm luôn tỏa ánh sánh lập lòe , được 3 phép màu ểm bùa, khiến cho nó không ngừng tỏa sáng dẫu cho Mana của chủ nhân đã cạn kiệt .Truyền thuyết xưa kể rằng Durandal ko thể bị phá hủy ,và nó từng dc. Hector thành Troy trong trường ca Illiad của Homer sử dụng .Sau này trở nên nổi tiếng như là vũ khí mà vua La Mã Charlemagne-người nhận thanh kiếm từ 1 thiên thần-trao tặng cho Hiệp sỹ trứ danh Roland .
-Saber:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: A
Vô hiệu bất cứ ma thuật nào dưới hạng A. Trong thực tế, ngày nay không có pháp sư nào có khả năng làm tổn thương Saber.
* Vật cưỡi:
Hạng: B (A)
Khả năng điều khiển các vật thể. Cô có thể lái thuần thục hầu hết các loại phương tiện, nhưng không thể điều khiển các sinh linh thần thánh như quái thú (demonic beast) hoặc thần thú (holy beast) . Chỉ trừ trong loạt sự kiện về Fate/Zero, kỹ năng của Saber đạt đến mức độ đủ khả năng lái cả các máy bay hạng nhẹ.
* Bản năng:
Hạng: A
Khả năng “cảm nhận” những hành động hay phương hướng có lợi nhất cho bản thân trong chiến đấu. Một dạng giác quan thứ 6, được tăng cường đến mức độ tiềm thức. Nó giảm 1/2 những trở ngại trong thị lực và thính lực so với người bình thường.
* Ma lực bộc phát:
Hạng: A
Kỹ năng chuyển đổi năng lượng ma thuật vào vũ khí hoặc cơ thể, sau đó nâng cao năng lực bản thân bằng cách phóng thích nguồn năng lượng này ngay tức thời. Nói đơn giản, nó giống như một động cơ phản lực của dòng năng lượng ma thuật. Saber áp dụng kỹ năng này trong kiếm thuật, chống đỡ và di chuyển. Nhờ vào nguồn năng lượng cực lớn sẵn có, Saber đấu ngang sức với cả Berserker dù chỉ là một cô gái nhỏ nhắn. Các vũ khí bình thường, tức không mang sự bảo hộ mạnh mẽ từ thần linh sẽ không chịu nổi những cú đánh chứa đầy năng lượng ma thuật của Saber, và bị vỡ nát chỉ với một đòn.
* Khả năng lãnh đạo:
Hạng: B
Tài năng bẩm sinh để chỉ huy quân đội. Nó gia tăng sức mạnh của một đạo quân trong các trận chiến lớn. Đây là một kỹ năng hiếm, và hạng B đã đủ để dẫn dắt cả một quốc gia.
Invisible Air:Có thể nói đây là một loại phép thuật hơn là một Noble Phantasm, khi được thi triển sẽ tạo một cột xoáy không khí xung quanh thanh kiếm của Saber, đồng thời ngăn cản sự khúc xạ của ánh sáng, khiến cho nó trở nên vô hình. Kẻ thù sẽ rất khó khăn khi tránh những đường kiếm của Saber bởi họ không thể xác định chiều dài và chiều rộng của thanh gươm là bao nhiêu. Hơn nữa, lượng không khí bị nén lại có thể được phóng thích dưới dạng 1 cơn lốc cực mạnh. Mặc dù rất hữu dụng trong chiến đấu, mục đích chính của Invisible Air chỉ để che giấu thân phận thật của Saber, vì các Noble Phantasm của cô rất nổi tiếng và dễ dàng bị nhận ra.
Excalibur:Một thanh gươm thần thánh được tạo nên từ ước vọng của loài người, với nguồn năng lượng quang điện chuyển hóa từ Mana chảy khắp lưỡi kiếm. Khi năng lượng này được phóng thích, nó tạo ra những tia sáng chói lòa, chứa đựng sức mạnh có thể khiến cả 1 đội quân tan biến. NP này được đặt tên theo thanh kiếm huyền thoại của vua Arthur, được Viviane - Thần Hồ ban tặng.
Avalon:Vỏ kiếm thanh Excalibur, được biết đến với khả năng mang lại sự trường sinh bất tử. Khi được sử dụng như NP, Avalon tan biến thành vô số phân tử và đưa chủ nhân vào trong 1 miền đất thanh bình, nơi không một tác động của bất cứ thế giới nào có thể chạm đến. Theo cách này, ta có thể hiểu Avalon giống như 1 "pháo đài xách tay" vậy. Avalon vượt xa thậm chí cả những phép thuật bậc cao nhất, và chỉ có thể so sánh như "Ma thuật đúng nghĩa" (True Magic). Tên Avalon nhằm chỉ 1 hòn đảo trong truyền thuyết dân gian Anh, được cho là nơi an nghỉ cuối cùng của vua Arthur.
-Archer:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: D
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Ở mức độ này, phép thuật được thi triển bằng thần chú gồm 1 đoạn hoặc ít hơn sẽ bị vô hiệu. Hãy nhớ rằng một “đoạn” được tạo thành bởi ít nhất 3 cụm từ. Năng lực này mạnh tương đương với một lá bùa bảo hộ thông thường.
* Hành động độc lập:
Hạng: B
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Ở mức độ này, Archer có thể tồn tại qua 2 ngày mà không cần giữ bất cứ thỏa ước nào, đồng thời có thể kéo dài sự hiện hữu của mình thêm một khoảng thời gian nữa ngay cả khi cốt lõi lưu giữ linh hồn anh trên thế giới này đã chịu tổn hại vượt mức cho phép.
* Tâm nhãn (True):
Hạng: B
Năng lực đưa ra những đánh giá nhanh chóng, chuẩn xác nhờ vào kinh nghiệm và rèn luyện không ngừng. Archer có khả năng phân tích tình huống thật bình tĩnh ngay cả trong lúc chiến đấu, từ đó áp dụng các chiến thuật và kỹ năng phù hợp để đưa cuộc chiến về thế có lợi cho anh. Miễn là còn ít nhất 1% cơ hội chiến thắng, anh vẫn có thể lập ra một kế hoạch nhằm khai khác cơ hội đó.
* Thần lực thị giác:
Hạng: C
Tăng cường khả năng thị giác. Trong trường hợp này, Archer đạt được nhờ sử dụng phép “Reinforcement” lên mắt mình. Ở mức độ này, anh có thể nhắm bắn chính xác những mục tiêu xa đến 4 km và nhìn rõ cử động của những vật thể di chuyển với tốc độ cực cao.
* Pháp thuật:
Hạng: C-
Khả năng của từng cá nhân trong việc sử dụng phép thuật. Với hạng này, người nắm giữ chỉ học được căn bản cách dùng ma thuật chính thống.
"Unlimited Blade Works":Reality Marble của Archer, còn được biết đến như "Unlimited Blade Works", là một khu vực đặc biệt nằm sâu trong linh hồn người sử dụng, thực chất là một phép thuật cao cấp vô cùng hiếm có. Bên trong nơi này Archer hoàn toàn chiếm ưu thế khi có thể phá vỡ bất cứ quy luật tự nhiên nào. Reality Marble có thể xem như 1 chiến trường cực kỳ lý tưởng của anh - hiện ra với khung cảnh của một cánh đồng rộng lớn và cằn cỗi, khắp nơi rải rác vô số Noble Phantasm (tức vũ khí của các anh hùng) cắm trên mặt đất, tô điểm bằng những bánh răng nguyên khối liên tục xoay chuyển, thêm vào đó là một làn sương mờ ảo nơi chân trời gần như che phủ cả ánh sáng. Chốc chốc đâu đó ánh lên tia lửa do ma sát bốc lên từ đất trông như những bong bóng nhỏ giữa làn nước sục sôi.Với UBW, Archer sở hữu tất cả những nguyên liệu cần thiết để thực hiện phép "Tracing", giúp anh tạo ra bất cứ thanh kiếm nào chỉ bằng 1 lần nhìn qua nó. Hơn nữa, Tracing còn giúp anh kế thừa kỹ năng chiến đấu của người từng sử dụng thanh kiếm trong 1 khoảng thời gian nhất định (hay hơn Gate of Babylon của Gil ở chỗ đó ) .Tuy nhiên trí tưởng tượng của con người không thể nào nhận biết hoàn toàn 1 vật thể chỉ với cảm quan, do đó chất lượng của những vũ khí được tạo ra không bao giờ ngang bằng với bản thể nguyên gốc. Gươm, giáo, kích thường được ưu tiên, nhưng Archer vẫn có thể tạo nên các tấm khiên bằng 1 lượng Mana nhiều hơn. Ngoài ra Archer cũng có thể rút những thanh kiếm này ra khỏi Reality Marble và phóng chúng xuống đối thủ như một cơn mưa đao kiếm (tương tự Gate of Babylon) . Hầu hết các NP này là bản sao từ những NP huyền thoại bên trong Gate of Babylon, nhưng cũng có một vài vũ khí do chính Archer tạo nên (sẽ liệt kê bên dưới) .
Thần chú gọi Reality Marble của Archer trong game:
"I am the bone of my sword.
Steel is my body, and fire is my blood.
I have created over a thousand blades.
Unknown to death.
Nor known to life.
Have withstood pain to create many weapons.
Yet, those hands will never hold anything.
So as I pray, "Unlimited Blade Works."
Một phiên bản khác từ bản dub tiếng Anh:
"I am the flesh and bone of my own sword.
Steel flows through my body, and fire is what courses through my blood.
I have created over a thousand blades.
Unknown to death.
Nor known to life.
Many times I have withstood enormous pain to create thousands of weapons.
And yet, those hands that have braved so much will never hold anything.
So as I pray now, I call forth "Unlimited Blade Works."
Và bản trên đài Animax trở thành:
"Now hear this! I am the bone of my sword
Steel is my body and Fire is my blood
I have created many blades
Unknown to death, nor known to life
I tear mountains from the earth and part waters with my blades
I have gone through great pains to create many weapons for you
And yet these hands that I speak of will never hold anything ever again
So as I pray to you, I pray, give me Unlimited Blade Works!"
"Kanshō - Bakuya":ặp Kan-đao của Trung Quốc, mỗi thanh tượng trưng lần lượt cho 2 lực lượng đối nghịch Âm-Dương. Chúng có thể được ném như boomerang, nếu 1 thanh đã được ném đi, nó tự động quay trở lại nếu người sử dụng vẫn giữ thanh còn lại. Khi được gia tăng sức mạnh nhờ phép Reinforcement, chúng mở rộng chiều dài gấp đôi và trông như những chiếc lông chim. Dạng này được biết đến như Kanshō và Bakuya Overedge. Đồng thời, từng thanh gươm cung cấp sự bảo vệ hạn chế chống lại những phép thuật khác nhau. Tên của 2 thanh đao này xuất phát từ thời Xuân Thu ở Trung Quốc, khi 1 thợ rèn lão luyện tên Can Tương bị vua nước Ngô ép phải rèn 2 thanh gươm tốt nhất thiên hạ (nếu không sẽ bị xử tử ) . Cùng với vợ là Mạc Da, Can Tương đi đến một ngọn núi nơi ông khám phá ra 1 mảnh thiên thạch chứa loại hợp kim đặc biệt. Mặc dù rất cố gắng, ông vẫn không rèn được nó thành hình. Vì sự an nguy của đức lang quân, Mạc Da lao mình vào lò rèn. Chính sự hy sinh của người vợ đã giúp Can Tương tạo hình được khối kim loại. Sản phẩm tạo thành là 1 cặp long phụng đao được đặt tên để tôn kính người thợ rèn vĩ đại cùng hiền thê của mình
"Caladbolg II":Thanh gươm bằng cẩm thạch này được Archer thiết kế dựa trên thanh Caladbolg - một vũ khí huyền thoại của Fergus mac Róich trong thần thoại Ai-len . Thường được Archer sử dụng như 1 mũi tên do nó tốn ít Mana. Chính anh đã sửa lại hình dáng của Caladbolg để nó hiệu quả hơn với chức năng mới. Khi được bắn ra, uy lực của nó tương đương một NP hạng "A" (cấp độ rất cao-chỉ sau EX ) . Anh hùng Celtic Cú Chulainn bị 1 "lời nguyền xung khắc" với Caladbolg, do đó khi anh ta quyết đấu với 1 nhân vật trong Ulster Cycle (cái thần thoại ban nãy ) sử dụng vũ khí này, Lancer chắc chắn thất bại.
"Rho Aias":Một vòng bảo hộ ma thuật cực kỳ mạnh mẽ, và cũng là NP bảo vệ duy nhất Archer sử dụng. Nguyên bản trước kia là một cái khiên đồng to lớn phủ 7 lớp da bò (vậy thì có gì hay đâu trời ) . Khi được kích hoạt, NP này hình thành bảy cánh hoa lăng kính liên tiếp, mỗi cánh gia tăng sức mạnh cho một pháo đài vô hình. Giữa các cổ vật đóng vai trò như NP, Rho Aias nổi tiếng với khả năng kháng cự phi thường chống lại mọi loại giáo (chậc, Archer có vẻ là khắc tinh của Lancer rồi ). Cái khiên nguyên bản từng là vật sở hữu của Telamonian Ajax -một anh hùng trong trường ca Illiad- người từng đấu với Hector thành Troy.
"Hrunting":Một phi đao đầy răng cưa, được Archer sử dụng trong Fate/hollow ataraxia. Khi được bắn ra, Hrunting tự động tìm hướng nhanh nhất phóng vào mục tiêu trong khi Archer tiếp tục ngắm bắn, và sẽ không dừng lại ngay cả khi bị tránh được, bị đổi hướng hay chặn lại. NP này có thể xuyên thấu trở lực trên đường bay của nó, với sức mạnh đủ làm xuyên thủng 4 lớp Rho Aias. Trong thần thoại Bắc Âu, Hrunting là tên của thanh kiếm phép được trao cho anh hùng Beowulf để chống lại 1 tên khổng lồ 3 đầu.
-Rider:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: B
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Ở mức độ này, phép thuật với đẳng cấp gồm 3 câu hoặc ít hơn sẽ bị xóa bỏ, và ngay cả những thần chú mạnh hơn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Thông thường các Servant thuộc Rider – class không có kỹ năng này.
* Vật cưỡi:
Hạng: A+
Khả năng điều khiển sinh vật và các phương tiện. Ở mức độ này, cô có thể thuần phục mọi vật cưỡi, bất kể là loài vật hay vật thể, ngay cả các sinh vật được xếp hạng Thần thú (divine beast) . Thứ duy nhất vượt ngoài khả năng của cô là những thứ thuộc chủng tộc của Rồng.
* Mắt Ma thuật:
Hạng: A+
Năng lực trời phú của một sinh vật, là đôi mắt đặc biệt có sức mạnh ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài. Cặp mắt của Rider, Cybele, giữ năng lực hóa đá. Được xếp vào loại Jewel trong số các Noble Color, chúng có khả năng biến bất cứ ai trong tầm nhìn của Rider thành đá bất chấp cô có muốn hay không. Mục tiêu không nhất thiết phải nhìn vào mắt Rider, và cô không thể tự tắt năng lực này. Đối tượng cần một lượng Mana đủ lớn để chống lại hiệu ứng của cặp mắt này. Ở mức độ này, bất kỳ ai có phòng ngự phép thuật dưới hạng B sẽ lập tức bị biến thành đá, và ngay cả những người có thể kháng cự lại nó cũng chịu mất một hạng status.
* Hành động độc lập:
Hạng: C
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Với mức độ này, cô có thể tồn tại qua 1 ngày mà không cần giữ bất cứ thỏa ước nào.
* Gốc gác thần thánh:
Hạng: E-
Đẳng cấp thần linh hiện hữu trong dòng máu của các sinh vật. Bị xếp vào loại yêu quái, Rider gần như mất toàn bộ thần tính của mình.
* Sức mạnh quái thú:
Hạng: B
Năng lực của quỷ dữ và sinh vật huyền thoại, nâng Sức mạnh lên một hạng trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào cấp độ của kỹ năng này. Rider còn có một điều kiện đặc biệt, đó là khi cô sử dụng khả năng này càng lâu thì ngoại hình cô sẽ càng biến đổi trở thành quái vật Gorgon trong thần thoại.
"Blood Fort Andromeda":Bằng cách sử dụng máu của mình như 1 thành phần nguyên liệu, Rider tạo ra một phong ấn hình mái vòm màu đỏ thẫm xung quanh địch thủ. Tất cả nạn nhân bị bẫy bên trong phong ấn này đều bị hút hết máu và biến thành 1 dung dịch hòa tan, mà sau đó sẽ được Rider hấp thụ thành Mana. Mặc dù rất hiệu quả để chặn đường rút lui của kẻ thù, NP này được dùng chủ yếu với mục đích tích trữ Mana. Sử dụng NP này gây tổn hại đến vòng tuần hoàn Mana trong vùng bị nó ảnh hưởng, do vậy sẽ giới hạn việc sử dụng ma thuật trong vùng này. Andromeda là tên của một cô công chúa - người đã cưới Perseus, con trai thần Zeus và cũng là người tiêu diệt Medusa.
"Breaker Gorgon":Cặp kính mà Rider đeo để che mắt Ma thuật của mình thực chất là một NP, được thiết kế để kiểm soát sức mạnh từ cái nhìn của cô (ai xem thần thoại Hy Lạp cũng biết Medusa nổi tiếng với cái nhìn chết người của mình ) . NP này tưởng nhớ các Gorgon, 3 quái vật tà ác trong thần thoại Hy Lạp.
Hình Rider sử dụng mắt Ma thuật:
"Bellerophon": Một yên ngựa bằng vàng, chỉ phát huy hiệu quả khi được buộc vào vật cưỡi của Rider, Pegasus - một con ngựa bay trong thần thoại. Khi phối hợp với Bellerophon, tất cả các thuộc tính của Pegasus tăng lên 1 hạng. Những cái vỗ từ cánh của Pegasus có thể tạo ra những đợt sóng xung kích cực mạnh. Sự kết hợp với 1 sinh vật huyền thoại giúp Bellerophon có khả năng tranh danh hiệu NP vĩ đại nhất. Tên của NP này gợi đến hoàng tử Bellerophon, người đã thuần hóa 1 con Pegasus và tiêu diệt quái vật Chimera
Cảnh Rider thi triển Bellerophon khi đấu với Saber:
(còn nữa)
Fate/stay night
Tựa đề : Fate/stay night
Đạo diễn : Yuuji Yamaguchi
Tác giả :Kinoko Nasu/TYPE-MOON
Nhà sản xuất : Fate Project/Studio Deen
Âm nhạc : Kenji Kawai
Thể loại : Giả tưởng/Phiêu lưu/Hành động
Rating : BA - 17
Định dạng : TV series
Độ dài : 25 phútx24 tập
Mở đầu:
Sự kiện trong Fate/stay night xảy ra với 1 cậu học sinh trung học 16 tuổi,Shirou Emiya,là cư dân ở Fuyuki City,nơi mà câu chuyện diễn ra.Cha mẹ của Shirou đã bị chết trong 1 đám cháy khi cậu còn nhỏ và cậu đc nhận nuôi bởi Kiritsugu Emiya,một người đàn ông bí ẩn tự gọi mình là 1 pháp sư.Ko lâu sau Kiritsugu cũng qua đời.
Cả Shirou và các cư dân khác của Fuyuki City đều ko biết,thành phố của họ là chiến trường của 1 cuộc chiến bí mật.Vào 1 thời điểm,các pháp sư từ khắp nơi tập hợp lại cùng nhau cùng với các Servant của họ - các linh hồn anh hùng trong truyền thuyết được triệu tập ,họ tồn tại vượt ra ngoài thời gian - cùng chiến đấu để giành lấy Holy Grail (Chén Thánh),một cổ vật đc cho rằng sẽ ban cho người sở hữu 1 điều ước.Tên thật của các Servant sẽ chỉ ra các điểm yếu của họ,nên họ thường đc nhắc đến theo các class của họ như : Saber,Archer,Rider,Berserker,Lancer,Caster, và Assassin.
Một ngày khi trở lại lại lau dọn đạo trường(dojo) của câu lạc bộ bắn cung,Shirou bất chợt nhìn thấy 2 Servant ,Archer và Lancer,đang giao chiến trên sân trường.Để bảo toàn bí mật cho cuộc chiến,Lancer đã định giết Shirou,nhưng 1 cô gái ,cho đến lúc đó vẫn chỉ có vẻ là 1 bạn cùng lớp bình thường của Shirou,Rin Tohsaka ,đã cứu sống cậu bằng 1 mặt dây chuyền phép thuật.Và khi cậu về nhà,vẫn chưa hết bất ngờ,cậu lại bị tấn công bởi Lancer.Ngay khi Shirou tưởng như cầm chắc cái chết,một Saber-class servant xuất hiện trước mặt cậu,và hỏi cậu :"Tôi hỏi anh,anh có phải Master của tôi ko ?"
Không còn cách nào khác,Shirou đã bị lôi kéo sâu hơn vào Grail War....
Nhân vật :
-Shirou Emiya
Nhân vật chính của câu chuyện.Một cậu học sinh rất nghêm túc và trung thực,chăm chỉ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.Là học sinh trung học năm thứ 2,có sở thích sửa chữa các đồ vật hỏng(từ 1 cái tivi đến 1 cái bếp lò),nấu ăn và dọn dẹp.Cậu chỉ có 1 chút khả năng phép thuật trong các phép thuật hỗ trợ (tăng tính sắc bén của 1 thanh kiếm hay độ bền của 1 cái khiên),vì cha nuôi của cậu ,Kiritsugu Emiya ko khuyến khích cậu đi theo con đường này.Ban đầu,cậu bị giằng co giữa 2 điều :ước muốn đoạt đc Holy Grail để kết thúc Grail War và ko muốn ai bị thương hay gặp nhuy hiểm trong cuộc chiến,kể cả với Servant của cậu,Saber.
Kiritsugu Emiya:
Seiyuu cho Shirou là Noriaki Sugiyama,English voice bởi Sam Riegel
-Saber
Là Servant của Shirou,một chiến binh ko chỉ nhanh nhẹn mà còn rất mạnh mẽ.Saber trung thành,độc lập,trầm lặng và ít nói;cô có 1 vẻ ngoài lạnh lùng nhưng thật ra cô hạn chế cảm xúc để hướng tới mục tiêu của bản thân.Class của Saber được coi là "Most Oustanding",và được đánh giá là xuất sắc .Vì Master của cô,Shirou, ko thể cung cấp đủ Mana cho cô,Saber thu hẹp khả năng của mình lại để thích nghi với những gì mình có .Saber luôn bị sức ép với việc bảo vệ an toàn cho Shirou,và cô tin rằng những hành động thiếu thận trọng,thất thường và liều mạng của Shirou sẽ làm giảm đi khả năng chiến thắng trong Holy Grail War.
Seiyuu cho Saber là Ayako Kawasumi,English voice bởi Kate Higgins
-Rin Tohsaka
Một học sinh gương mẫu và là thần tượng ở trường,Rin thật ra là 1 pháp sư và Master trong Holy Grail War.Cô là người thuộc 1 dòng dõi phù thủy lâu đời,do đã nhận được 1 sự dạy dỗ về pháp thuật căn bản,nên khả năng phép thuật của Rin rất mạnh.Cha của cô đã bị giết trong Holy Grail War lần thứ 4,và Rin đã không ngừng rèn luyện từ khi ông chết để tiếp tục kế thừa nhưng gì ông để lại.Cô là 1 con người nhạy bén,giỏi ứng phó và sẵn sàng ganh đua.Mặc dù Rin cố summon 1 Servant thuộc Saber - class,thay vào đó Rin bất ngờ gọi được Archer
Seiyuu cho Rin hoàn thành bởi Kana Ueda,English voice bởi Mela Lee
-Archer
Anh là Servant của 1 trong số các nữ nhân vật chính,Rin Tohsaka.Do 1 sự summon chưa hoàn thành,anh không có chút ký ức nào về quá khứ cũng như bản thân .Archer là một người hay châm biếm và hoài nghi - nhưng bên dưới vẻ ngoài khó gần lại ẩn chứa 1 sự phức tạp và có thân phận bí ẩn ko được biết rõ qua suốt cả câu chuyện.Do kỹ năng với vũ khí tầm xa,Archer bị giới hạn trong cận chiến.Archer coi ý tưởng của Shirou Emiya là yếu đuối và hão huyền,nhận thấy mong muốn "bảo vệ tất cả mọi người" của Shirou là ngây thơ và không thể thực hiện.
Seiyuu cho Archer thực hiện bởi Junichi Suwabe,English voice bởi Liam O'Brien.
-Illyasviel von Einzbern
Illyasviel von Einzbern,thường được gọi là Ilya.Do mái tóc trắng và đôi mắt đỏ.Cô bé được coi là bị bạch tạng (albino 65.gif ).Là 1 cô bé thuộc dòng dõi quý tộc Đức,đến Nhật để tham gia Holy Grail War trong vai trò một Master.Illyasviel có một vẻ ngoài của 1 cô bé dễ thương, hồn nhiên và tinh quái hơn là một Master.Cô sống trong 1 lâu đài ở ngoại vi Fuyuki City,cùng với Servant của cô : Berserker và 2 cô hầu.Illyasviel yêu cầu nhưng người nào cô bé cảm thấy dễ gần gọi mình là "Ilya".Mẹ của cô bé,Irisviel von Einzbern,đã chiến đấu chống lại Saber và Kiritsugu Emiya trong Holy Grail War trước.
Theo cung cấp của pác Tama : chuyện mẹ của Ilya,hình như hồi trước là romatic involve với cha Shirou chứ ko phải chiến đấu chống 04.gif,Ilya căm giận Kiritsugu là vì ông đã bỏ đi (vì pác Tama hiểu biết về FSN hơn Kei nên để nguyên 04.gif )
Đây là hình của Irisviel von Einzbern
Seiyuu cho Ilya là Mai Kadowaki ,English voice bởi Stephanie Sheh
-Berserker
Servant của Ilya,anh ta là 1 người khổng lồ với thân hình lực lương và làn da sắt đá.Anh ta cầm 1 chùy đá vĩ đại,với khả năng gây ra sự tàn phá lớn khi Berserker chém loạn xạ (hoàn toàn chính xác 0T.gif ).Đúng như tên gọi,anh hoàn toàn mất hết lý trí và điên loạn,hành động hoàn toàn bản năng trong chiến đấu.Berserker được xếp vào loại class "Strongest",do khó có thể điều khiển được anh.(Berserker chính là Hercules trong thần thoại Hy Lạp,ai từng đọc Greek Mythology chắc cũng biết lý do điên loạn của Berserker 65.gif ).Mặc dù vậy,Ilya ko gặp khó khăn gì mấy với việc điều khiển Berserker.
Cũng theo Tama-news 10.gif : Berserker tuy nói là mạnh nhất nhưng thực ra là class đòi hỏi stat đầu vào thấp nhất,nên đó vừa là class strongest, vừa là class crappiest (tùy vào heroic spirit nào được summon)
Saiko no Servant (strongest Servant) là bản thân Herakles, chưa chắc toàn bộ Berserker đều là strongest @__@
Seiyuu cho Berserker là Tadahisa Saizen,English voice bởi Michael McConnohie
-Shinji Matou
Anh của Sakura,và là 1 người bạn cũ của Shirou.Mặc dù có tự ái cao và khá cực đoan,Shinji rất nổi tiếng với danh hiệu Vice-Captain của Archery Dojo.Giống như Rin,hắn cũng xuất thân từ 1 dòng dõi phù thủy lâu đời,mặc dù nhà Matou đã ko còn ai thừa kế xứng đáng để là 1 pháp sư.Shinji cảm thấy khó chịu với việc Sakura đến nhà Shirou mỗi ngày.Hắn đã cũng tỏ tình với Rin,nhưng cô đã ko thèm đáp lại (nếu Rin ko thế chưa chắc thằng Shinji thành 1 Master tởm lợm vậy đâu,nhưng ,chuyện tình cảm ko thể ép buộc 04.gif )
Seiyuu cho Shinji thực hiện bởi Hiroshi Kamiya,English voice bởi Doug Erholtz
-Rider
Cô ta là Servant của Shinji,lần đầu tiên được nhìn thấy khi đang theo dõi quanh Homurabara Gakuen.Rider luôn giữ yên lặng,cảnh giác theo dõi (và có vẻ ngoài rất nóng bỏng ,đầy cám dỗ 65.gif ),ko bao giờ có ý định bảo vệ Master của mình khỏi nguy hiểm.Vì khả năng của Shinji ko thể cung cấp mana cho cô,Rider buộc phải tìm các mục tiêu là người khác ,tấn công và cướp lấy linh hồn để tự cung cấp mana cho mình.Rider luôn tìm cách lợi dụng lợi thế về địa hình trong chiến đấu.Vũ khí mà cô ta chọn là cặp dùi sắt dài được nối vào nhau bởi 1 sợi xích,giúp cô ta có thể gây thiệt hại cho đối thủ từ xa
Seiyuu cho Rider thực hiện bởi Yu Asakawa,English voice bởi Karen Strassman
Các nhân vật phụ : (chỉ xét trên anime)
-Sakura Matou
Học sinh năm thứ nhất trung học,là em gái của Shinji Matou.Sau khi cha của Shirou,Kiritsugu chết, Sakura thường lui tới nhà Shirou để giúp cậu ta làm việc nhà.Cô có vẻ ngoài khá ngượng ngùng và nhút nhát,nhưng ẩn chứa bên trong là 1 sức mạnh ko ngờ.(Rõ ràng là Sakura có tình cảm từ rất lâu với Shirou Emiya,nhưng như mọi nhân vật nam chính khác của A_M,Shirou "ngu ngốc hay giả vờ ngu ngốc" và ko nhận ra tình cảm đó (spoile 65.gif )).
Seiyuu của Sakura là Noriko,English voice bởi Sherry Lynn
-Kirei Kotomine
Do 1 thỏa thuận giữa Hiệp hội các Pháp sư (Mages' Association) và Nhà thờ,Holy Grail War được điều hành bởi 1 linh mục.Cha của Kirei là người điều hành của Holy Grail War lần thứ 4,và khi ông ta chết,Kirei cảm thấy mình có trách nhiệm phải thay thế cha mình.Sự lựa chọn Kirei làm người điều hành (người giới thiệu,giải thích luật lệcho những người tham gia Grail War,và còn nắm giữ lịch sử của Grail War nữa) là 1 điều bất thường,vì Kirei là thành viên của cả nhà thờ và Mages' Association,những tổ chức luôn có khuynh hướng thù địch nhau.Kể từ cái chết của cha Rin,Kirei cũng hành động như 1 người giám hộ ko chính thức của Rin.(Mặc dù ở thứ hạng thấp theo hệ thống thứ hạng của Nhà thờ hơn Ciel (Tsukihime),Kirei sử sụng rất nhiều vũ khí và kĩ năng giống Ciel (spoile 65.gif )).
Seiyuu cho Kotomine thực hiện bởi Jouji Nakata,Engkish voice bởi Taylor Henry
Nhân vật đặc biệt:
Urk Gilgamesh
Tên này hình như rất mến mộ Saber,suốt phim hắn chỉ có một điều kiện là bắt buộc Saber phải trở về Spirit World với hắn thôi,có vẻ không hứng thú lắm với Holy Grail
Một Servant thuộc lớp Archer-class , tính tình ích kỷ , kiêu ngạo và đầy bí ẩn .Từng tham gia Holy Grail War 10 năm trước , giờ đây cùng với Kotomine thực hiện âm mưu ngầm do họ vạch ra trong Holy Grail War lần này .
Với cách ăn nói vô cùng kiêu ngạo và ngang tàng của một Hero – King of Ancient Uruk , ở cuộc chiến Holy Grail War 10 năm về trước , Gilgamesh đã cầu hôn Saber ( chắc chắn với một giọng điệu sặc mùi chiếm hữu nô lệ theo kiểu “Người phụ nữ đó thuộc về ta , Đức Vua này ” như anh ta vẫn thường nói ) , và đương nhiên anh nhận được một nhát kiếm của Saber – Arthur king cùng với lời từ chối .
Gilgamesh hầu như chưa từng nghi ngờ gì về việc sẽ chiếm được saber dù sớm hay muộn ,nhưng có lẽ lần này vị Hero – King hầu như chưa bao giờ thất bại trong việc chiếm lấy một thứ gì trên đời đã gặp một ngoại lệ đầu tiên trong đời . Dù sao cuối cùng anh ta cũng biết cách bày tỏ tình cảm theo một kiểu romantic hơn ( các boy thời nay cũng nên nhìn vào tấm gương của anh ta mà lựa lời tỏ tình hợp thời trang 1 chút , lạc hậu tư tưởng quá coi chừng lâm vào bi kịch đáng buồn của tiền nhân ....).
Gilgamesh còn được biết đến với khả năng sử dụng rất nhiều Noble Phantasm , mặc dù trong số đó không có chiêu nào tiết lộ về danh tánh của Gil cả .
*Noble phantasm :
-Urk Gilgamesh
"Gate of Babylon": Kho báu vương triều
Một thanh gươm nhỏ đóng vai trò như chìa khóa , cho phép Gilgamesh kết nối vào kho tàng khổng lồ của mình ở chính trung tâm thành phố Babylon cổ xưa , bên trong là vô số vũ khí được thu thập vào lúc đỉnh cao của vương triều Uruk .Gilgamesh có thể bắn các vũ khí này hoặc phóng chúng ra như tên lửa . Các cổ vật này sẽ biến trở lại vào kho tàng sau 1 khoảng thời gian nào đó . Bởi vì ko quen sử dụng các vũ khí này ,Gilgamesh đơn thuần chỉ bắn chúng ra như những viên đạn . Chính Noble Phantasm này đã ấn định Gilgamesh là 1 Archer-class Servant .
Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: E (C)
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Riêng Gil không thể vô hiệu phép thuật. Tuy nhiên trong cuộc chiến lần 4, trước khi bị chất độc trong Chén Thánh nhiễm vào người, anh ta có thể kháng cự lại phép thuật với thần chú từ khoảng hai đoạn hoặc ít hơn.
* Hành động độc lập:
Hạng: A+ (A)
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Kể từ khi bị biến thành một Servant ngoại lai do tác động của Chén Thánh, anh ta không còn phải nhờ đến mana từ Master để duy trì sự hiện hữu của mình trong thế giới này. Thay vào đó, Gilgamesh phải sống bằng sinh lực của con người, đặc biệt là trẻ em, để duy trì cơ thể. Ngay cả trước khi bị chuyển hóa, anh ta đã sở hữu một lượng lớn khả năng hành động độc lập, trở thành Servant hoàn hảo trong việc chiến đấu mà không cần sự hỗ trợ từ Master, mặc dù vẫn phải được cung cấp thêm mana để sử dụng Noble Phantasm đến mức tối đa.
* Quy luật vàng:
Hạng: A
Xuyên suốt con đường của lịch sử cũng như thần thoại, những cá nhân được ban tặng may mắn lớn lao, kho báu chất chồng không đếm xuể đều được xác định là những người sở hữu Quy Luật Vàng (Golden Rule) . Trong số họ, Gil là người duy nhất đứng trên ngai vị của sự giàu sang tột đỉnh, nhờ đó anh luôn có đủ của cải để phung phí vào bất cứ thứ gì anh muốn trong bất kỳ thời đại nào anh được gọi lên.
* Khả năng lãnh đạo:
Hạng: A+
Tài năng bẩm sinh để chỉ huy quân đội. Như để bổ sung cho tiền tài của vị vua, Gilgamesh cũng sở hữu thiên bẩm cao sang nhất. Với khả năng đáng kinh ngạc này, anh ta có thể tiếp thêm sinh khí và chỉ đạo mọi đội quân ở bất cứ kích cỡ nào. Gil truyền cho họ một niềm tự hào cũng như lòng tôn kính đối với anh và mục tiêu của anh đến nỗi hiệu quả của họ trong trận đánh tăng thêm đáng kể.
* Gốc gác thần thánh:
Hạng: B (A+)
Đẳng cấp của thần linh hiện hữu trong dòng máu của các sinh vật. Rất nhiều sức mạnh của Gilgamesh bắt nguồn từ huyết thống. Trong vô vàn hình tượng thần thoại trích từ lịch sử nhân loại, anh ta là người sở hữu gốc gác cao quý nhất, khi có đến 2/3 huyết thống của thần linh. Tuy nhiên, vì những hành động thách thức và ngạo mạn trong cuộc đời trước, cũng như sự bất kính với các vị thần chủ chốt, khiến cho Gil bị nhiều thần linh khinh miệt, và để chịu trừng phạt cho hành động của mình, thần tính của Gil bị giảm đến cả một bậc.
"Enuma Elish -Ea":Tinh tú sáng tạo chia rẽ Đất-Trời
Một lưỡi đao chạm khắc những ký tự ma thuật màu đỏ thẫm viết bằng ngôn ngữ Sumer . Với nguồn năng lượng lớn hơn nhiều so với thanh Excalibur của Saber , sự xoay chuyển của 3 lưỡi đao từ thanh Ea nén hút toàn bộ không khí xung quanh ,phóng thích một vụ nổ rung chuyển cả đất trời . Vì chất liệu tạo ra Ea không có ở thế giới phàm trần , nên nó ko thể được tạo ra bằng UBW của Shirou . Đây là Noble Phantasm mạnh nhất trong khả năng của Gilgamesh . Cái tên Enuma Elish là để ám chỉ anh hùng ca về sự sáng tạo ra Babylon , và Ea là tên của thần nước bảo hộ cho Babylon
"Enkidu":Sợi xích thiên đường
Một trong những thánh tích Gil từng sử dụng trong cuộc đời thực của mình .Vũ khí này được rèn chuyên dùng để trói thần linh ,do vậy nó giảm đi rất nhiều tác dụng khi dùng với địch thủ có ít hoặc ko có thần tính .Mặc dù ko phải là một Noble Phantasm thực thụ , Endiku là vũ khí mà Gil tin tưởng nhất . Được lấy tên để tưởng nhớ bạn cũ của Gil (Endiku), và là sợi xích trói Bò Thần trong truyền thuyết Babylon
"Merodach":Cội nguồn tội lỗi
Một thanh kiếm tuy ko tô điểm nhưng vẫn rực sáng ,đồng thời chứa đựng sức mạnh ma thuật rất lớn .Đây là thanh kiếm gốc tạo nên thanh gươm tà ác lừng danh Gram trong thần thọai Bắc Âu , cũng dc. biết đến với 2 cái tên Balmung và Nothung .Tiếp đó ,Caliburn -thanh kiếm vàng được Vua Arthur rút ra khỏi một viên đá- lại được chế tạo từ 1 phần sơ đồ của thanh Gram .Mặc dù ko nổi danh như 2 đàn em của mình ,sức mạnh của Merodach vượt xa cả Gram và Caliburn .Cái tên của cây kiếm này tôn vinh vị thần chủ của người Sumer cổ ,và cũng là thần bảo hộ cho Babylon-Merodach.
Durendal :
Thanh thánh kiếm luôn tỏa ánh sánh lập lòe , được 3 phép màu ểm bùa, khiến cho nó không ngừng tỏa sáng dẫu cho Mana của chủ nhân đã cạn kiệt .Truyền thuyết xưa kể rằng Durandal ko thể bị phá hủy ,và nó từng dc. Hector thành Troy trong trường ca Illiad của Homer sử dụng .Sau này trở nên nổi tiếng như là vũ khí mà vua La Mã Charlemagne-người nhận thanh kiếm từ 1 thiên thần-trao tặng cho Hiệp sỹ trứ danh Roland .
-Saber:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: A
Vô hiệu bất cứ ma thuật nào dưới hạng A. Trong thực tế, ngày nay không có pháp sư nào có khả năng làm tổn thương Saber.
* Vật cưỡi:
Hạng: B (A)
Khả năng điều khiển các vật thể. Cô có thể lái thuần thục hầu hết các loại phương tiện, nhưng không thể điều khiển các sinh linh thần thánh như quái thú (demonic beast) hoặc thần thú (holy beast) . Chỉ trừ trong loạt sự kiện về Fate/Zero, kỹ năng của Saber đạt đến mức độ đủ khả năng lái cả các máy bay hạng nhẹ.
* Bản năng:
Hạng: A
Khả năng “cảm nhận” những hành động hay phương hướng có lợi nhất cho bản thân trong chiến đấu. Một dạng giác quan thứ 6, được tăng cường đến mức độ tiềm thức. Nó giảm 1/2 những trở ngại trong thị lực và thính lực so với người bình thường.
* Ma lực bộc phát:
Hạng: A
Kỹ năng chuyển đổi năng lượng ma thuật vào vũ khí hoặc cơ thể, sau đó nâng cao năng lực bản thân bằng cách phóng thích nguồn năng lượng này ngay tức thời. Nói đơn giản, nó giống như một động cơ phản lực của dòng năng lượng ma thuật. Saber áp dụng kỹ năng này trong kiếm thuật, chống đỡ và di chuyển. Nhờ vào nguồn năng lượng cực lớn sẵn có, Saber đấu ngang sức với cả Berserker dù chỉ là một cô gái nhỏ nhắn. Các vũ khí bình thường, tức không mang sự bảo hộ mạnh mẽ từ thần linh sẽ không chịu nổi những cú đánh chứa đầy năng lượng ma thuật của Saber, và bị vỡ nát chỉ với một đòn.
* Khả năng lãnh đạo:
Hạng: B
Tài năng bẩm sinh để chỉ huy quân đội. Nó gia tăng sức mạnh của một đạo quân trong các trận chiến lớn. Đây là một kỹ năng hiếm, và hạng B đã đủ để dẫn dắt cả một quốc gia.
Invisible Air:Có thể nói đây là một loại phép thuật hơn là một Noble Phantasm, khi được thi triển sẽ tạo một cột xoáy không khí xung quanh thanh kiếm của Saber, đồng thời ngăn cản sự khúc xạ của ánh sáng, khiến cho nó trở nên vô hình. Kẻ thù sẽ rất khó khăn khi tránh những đường kiếm của Saber bởi họ không thể xác định chiều dài và chiều rộng của thanh gươm là bao nhiêu. Hơn nữa, lượng không khí bị nén lại có thể được phóng thích dưới dạng 1 cơn lốc cực mạnh. Mặc dù rất hữu dụng trong chiến đấu, mục đích chính của Invisible Air chỉ để che giấu thân phận thật của Saber, vì các Noble Phantasm của cô rất nổi tiếng và dễ dàng bị nhận ra.
Excalibur:Một thanh gươm thần thánh được tạo nên từ ước vọng của loài người, với nguồn năng lượng quang điện chuyển hóa từ Mana chảy khắp lưỡi kiếm. Khi năng lượng này được phóng thích, nó tạo ra những tia sáng chói lòa, chứa đựng sức mạnh có thể khiến cả 1 đội quân tan biến. NP này được đặt tên theo thanh kiếm huyền thoại của vua Arthur, được Viviane - Thần Hồ ban tặng.
Avalon:Vỏ kiếm thanh Excalibur, được biết đến với khả năng mang lại sự trường sinh bất tử. Khi được sử dụng như NP, Avalon tan biến thành vô số phân tử và đưa chủ nhân vào trong 1 miền đất thanh bình, nơi không một tác động của bất cứ thế giới nào có thể chạm đến. Theo cách này, ta có thể hiểu Avalon giống như 1 "pháo đài xách tay" vậy. Avalon vượt xa thậm chí cả những phép thuật bậc cao nhất, và chỉ có thể so sánh như "Ma thuật đúng nghĩa" (True Magic). Tên Avalon nhằm chỉ 1 hòn đảo trong truyền thuyết dân gian Anh, được cho là nơi an nghỉ cuối cùng của vua Arthur.
-Archer:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: D
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Ở mức độ này, phép thuật được thi triển bằng thần chú gồm 1 đoạn hoặc ít hơn sẽ bị vô hiệu. Hãy nhớ rằng một “đoạn” được tạo thành bởi ít nhất 3 cụm từ. Năng lực này mạnh tương đương với một lá bùa bảo hộ thông thường.
* Hành động độc lập:
Hạng: B
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Ở mức độ này, Archer có thể tồn tại qua 2 ngày mà không cần giữ bất cứ thỏa ước nào, đồng thời có thể kéo dài sự hiện hữu của mình thêm một khoảng thời gian nữa ngay cả khi cốt lõi lưu giữ linh hồn anh trên thế giới này đã chịu tổn hại vượt mức cho phép.
* Tâm nhãn (True):
Hạng: B
Năng lực đưa ra những đánh giá nhanh chóng, chuẩn xác nhờ vào kinh nghiệm và rèn luyện không ngừng. Archer có khả năng phân tích tình huống thật bình tĩnh ngay cả trong lúc chiến đấu, từ đó áp dụng các chiến thuật và kỹ năng phù hợp để đưa cuộc chiến về thế có lợi cho anh. Miễn là còn ít nhất 1% cơ hội chiến thắng, anh vẫn có thể lập ra một kế hoạch nhằm khai khác cơ hội đó.
* Thần lực thị giác:
Hạng: C
Tăng cường khả năng thị giác. Trong trường hợp này, Archer đạt được nhờ sử dụng phép “Reinforcement” lên mắt mình. Ở mức độ này, anh có thể nhắm bắn chính xác những mục tiêu xa đến 4 km và nhìn rõ cử động của những vật thể di chuyển với tốc độ cực cao.
* Pháp thuật:
Hạng: C-
Khả năng của từng cá nhân trong việc sử dụng phép thuật. Với hạng này, người nắm giữ chỉ học được căn bản cách dùng ma thuật chính thống.
"Unlimited Blade Works":Reality Marble của Archer, còn được biết đến như "Unlimited Blade Works", là một khu vực đặc biệt nằm sâu trong linh hồn người sử dụng, thực chất là một phép thuật cao cấp vô cùng hiếm có. Bên trong nơi này Archer hoàn toàn chiếm ưu thế khi có thể phá vỡ bất cứ quy luật tự nhiên nào. Reality Marble có thể xem như 1 chiến trường cực kỳ lý tưởng của anh - hiện ra với khung cảnh của một cánh đồng rộng lớn và cằn cỗi, khắp nơi rải rác vô số Noble Phantasm (tức vũ khí của các anh hùng) cắm trên mặt đất, tô điểm bằng những bánh răng nguyên khối liên tục xoay chuyển, thêm vào đó là một làn sương mờ ảo nơi chân trời gần như che phủ cả ánh sáng. Chốc chốc đâu đó ánh lên tia lửa do ma sát bốc lên từ đất trông như những bong bóng nhỏ giữa làn nước sục sôi.Với UBW, Archer sở hữu tất cả những nguyên liệu cần thiết để thực hiện phép "Tracing", giúp anh tạo ra bất cứ thanh kiếm nào chỉ bằng 1 lần nhìn qua nó. Hơn nữa, Tracing còn giúp anh kế thừa kỹ năng chiến đấu của người từng sử dụng thanh kiếm trong 1 khoảng thời gian nhất định (hay hơn Gate of Babylon của Gil ở chỗ đó ) .Tuy nhiên trí tưởng tượng của con người không thể nào nhận biết hoàn toàn 1 vật thể chỉ với cảm quan, do đó chất lượng của những vũ khí được tạo ra không bao giờ ngang bằng với bản thể nguyên gốc. Gươm, giáo, kích thường được ưu tiên, nhưng Archer vẫn có thể tạo nên các tấm khiên bằng 1 lượng Mana nhiều hơn. Ngoài ra Archer cũng có thể rút những thanh kiếm này ra khỏi Reality Marble và phóng chúng xuống đối thủ như một cơn mưa đao kiếm (tương tự Gate of Babylon) . Hầu hết các NP này là bản sao từ những NP huyền thoại bên trong Gate of Babylon, nhưng cũng có một vài vũ khí do chính Archer tạo nên (sẽ liệt kê bên dưới) .
Thần chú gọi Reality Marble của Archer trong game:
"I am the bone of my sword.
Steel is my body, and fire is my blood.
I have created over a thousand blades.
Unknown to death.
Nor known to life.
Have withstood pain to create many weapons.
Yet, those hands will never hold anything.
So as I pray, "Unlimited Blade Works."
Một phiên bản khác từ bản dub tiếng Anh:
"I am the flesh and bone of my own sword.
Steel flows through my body, and fire is what courses through my blood.
I have created over a thousand blades.
Unknown to death.
Nor known to life.
Many times I have withstood enormous pain to create thousands of weapons.
And yet, those hands that have braved so much will never hold anything.
So as I pray now, I call forth "Unlimited Blade Works."
Và bản trên đài Animax trở thành:
"Now hear this! I am the bone of my sword
Steel is my body and Fire is my blood
I have created many blades
Unknown to death, nor known to life
I tear mountains from the earth and part waters with my blades
I have gone through great pains to create many weapons for you
And yet these hands that I speak of will never hold anything ever again
So as I pray to you, I pray, give me Unlimited Blade Works!"
"Kanshō - Bakuya":ặp Kan-đao của Trung Quốc, mỗi thanh tượng trưng lần lượt cho 2 lực lượng đối nghịch Âm-Dương. Chúng có thể được ném như boomerang, nếu 1 thanh đã được ném đi, nó tự động quay trở lại nếu người sử dụng vẫn giữ thanh còn lại. Khi được gia tăng sức mạnh nhờ phép Reinforcement, chúng mở rộng chiều dài gấp đôi và trông như những chiếc lông chim. Dạng này được biết đến như Kanshō và Bakuya Overedge. Đồng thời, từng thanh gươm cung cấp sự bảo vệ hạn chế chống lại những phép thuật khác nhau. Tên của 2 thanh đao này xuất phát từ thời Xuân Thu ở Trung Quốc, khi 1 thợ rèn lão luyện tên Can Tương bị vua nước Ngô ép phải rèn 2 thanh gươm tốt nhất thiên hạ (nếu không sẽ bị xử tử ) . Cùng với vợ là Mạc Da, Can Tương đi đến một ngọn núi nơi ông khám phá ra 1 mảnh thiên thạch chứa loại hợp kim đặc biệt. Mặc dù rất cố gắng, ông vẫn không rèn được nó thành hình. Vì sự an nguy của đức lang quân, Mạc Da lao mình vào lò rèn. Chính sự hy sinh của người vợ đã giúp Can Tương tạo hình được khối kim loại. Sản phẩm tạo thành là 1 cặp long phụng đao được đặt tên để tôn kính người thợ rèn vĩ đại cùng hiền thê của mình
"Caladbolg II":Thanh gươm bằng cẩm thạch này được Archer thiết kế dựa trên thanh Caladbolg - một vũ khí huyền thoại của Fergus mac Róich trong thần thoại Ai-len . Thường được Archer sử dụng như 1 mũi tên do nó tốn ít Mana. Chính anh đã sửa lại hình dáng của Caladbolg để nó hiệu quả hơn với chức năng mới. Khi được bắn ra, uy lực của nó tương đương một NP hạng "A" (cấp độ rất cao-chỉ sau EX ) . Anh hùng Celtic Cú Chulainn bị 1 "lời nguyền xung khắc" với Caladbolg, do đó khi anh ta quyết đấu với 1 nhân vật trong Ulster Cycle (cái thần thoại ban nãy ) sử dụng vũ khí này, Lancer chắc chắn thất bại.
"Rho Aias":Một vòng bảo hộ ma thuật cực kỳ mạnh mẽ, và cũng là NP bảo vệ duy nhất Archer sử dụng. Nguyên bản trước kia là một cái khiên đồng to lớn phủ 7 lớp da bò (vậy thì có gì hay đâu trời ) . Khi được kích hoạt, NP này hình thành bảy cánh hoa lăng kính liên tiếp, mỗi cánh gia tăng sức mạnh cho một pháo đài vô hình. Giữa các cổ vật đóng vai trò như NP, Rho Aias nổi tiếng với khả năng kháng cự phi thường chống lại mọi loại giáo (chậc, Archer có vẻ là khắc tinh của Lancer rồi ). Cái khiên nguyên bản từng là vật sở hữu của Telamonian Ajax -một anh hùng trong trường ca Illiad- người từng đấu với Hector thành Troy.
"Hrunting":Một phi đao đầy răng cưa, được Archer sử dụng trong Fate/hollow ataraxia. Khi được bắn ra, Hrunting tự động tìm hướng nhanh nhất phóng vào mục tiêu trong khi Archer tiếp tục ngắm bắn, và sẽ không dừng lại ngay cả khi bị tránh được, bị đổi hướng hay chặn lại. NP này có thể xuyên thấu trở lực trên đường bay của nó, với sức mạnh đủ làm xuyên thủng 4 lớp Rho Aias. Trong thần thoại Bắc Âu, Hrunting là tên của thanh kiếm phép được trao cho anh hùng Beowulf để chống lại 1 tên khổng lồ 3 đầu.
-Rider:Ability:
* Phòng ngự phép thuật:
Hạng: B
Khả năng vô hiệu hoặc làm giảm hiệu ứng của ma thuật. Ở mức độ này, phép thuật với đẳng cấp gồm 3 câu hoặc ít hơn sẽ bị xóa bỏ, và ngay cả những thần chú mạnh hơn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Thông thường các Servant thuộc Rider – class không có kỹ năng này.
* Vật cưỡi:
Hạng: A+
Khả năng điều khiển sinh vật và các phương tiện. Ở mức độ này, cô có thể thuần phục mọi vật cưỡi, bất kể là loài vật hay vật thể, ngay cả các sinh vật được xếp hạng Thần thú (divine beast) . Thứ duy nhất vượt ngoài khả năng của cô là những thứ thuộc chủng tộc của Rồng.
* Mắt Ma thuật:
Hạng: A+
Năng lực trời phú của một sinh vật, là đôi mắt đặc biệt có sức mạnh ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài. Cặp mắt của Rider, Cybele, giữ năng lực hóa đá. Được xếp vào loại Jewel trong số các Noble Color, chúng có khả năng biến bất cứ ai trong tầm nhìn của Rider thành đá bất chấp cô có muốn hay không. Mục tiêu không nhất thiết phải nhìn vào mắt Rider, và cô không thể tự tắt năng lực này. Đối tượng cần một lượng Mana đủ lớn để chống lại hiệu ứng của cặp mắt này. Ở mức độ này, bất kỳ ai có phòng ngự phép thuật dưới hạng B sẽ lập tức bị biến thành đá, và ngay cả những người có thể kháng cự lại nó cũng chịu mất một hạng status.
* Hành động độc lập:
Hạng: C
Khả năng giúp các Servant tồn tại mà không cần có Master. Với mức độ này, cô có thể tồn tại qua 1 ngày mà không cần giữ bất cứ thỏa ước nào.
* Gốc gác thần thánh:
Hạng: E-
Đẳng cấp thần linh hiện hữu trong dòng máu của các sinh vật. Bị xếp vào loại yêu quái, Rider gần như mất toàn bộ thần tính của mình.
* Sức mạnh quái thú:
Hạng: B
Năng lực của quỷ dữ và sinh vật huyền thoại, nâng Sức mạnh lên một hạng trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào cấp độ của kỹ năng này. Rider còn có một điều kiện đặc biệt, đó là khi cô sử dụng khả năng này càng lâu thì ngoại hình cô sẽ càng biến đổi trở thành quái vật Gorgon trong thần thoại.
"Blood Fort Andromeda":Bằng cách sử dụng máu của mình như 1 thành phần nguyên liệu, Rider tạo ra một phong ấn hình mái vòm màu đỏ thẫm xung quanh địch thủ. Tất cả nạn nhân bị bẫy bên trong phong ấn này đều bị hút hết máu và biến thành 1 dung dịch hòa tan, mà sau đó sẽ được Rider hấp thụ thành Mana. Mặc dù rất hiệu quả để chặn đường rút lui của kẻ thù, NP này được dùng chủ yếu với mục đích tích trữ Mana. Sử dụng NP này gây tổn hại đến vòng tuần hoàn Mana trong vùng bị nó ảnh hưởng, do vậy sẽ giới hạn việc sử dụng ma thuật trong vùng này. Andromeda là tên của một cô công chúa - người đã cưới Perseus, con trai thần Zeus và cũng là người tiêu diệt Medusa.
"Breaker Gorgon":Cặp kính mà Rider đeo để che mắt Ma thuật của mình thực chất là một NP, được thiết kế để kiểm soát sức mạnh từ cái nhìn của cô (ai xem thần thoại Hy Lạp cũng biết Medusa nổi tiếng với cái nhìn chết người của mình ) . NP này tưởng nhớ các Gorgon, 3 quái vật tà ác trong thần thoại Hy Lạp.
Hình Rider sử dụng mắt Ma thuật:
"Bellerophon": Một yên ngựa bằng vàng, chỉ phát huy hiệu quả khi được buộc vào vật cưỡi của Rider, Pegasus - một con ngựa bay trong thần thoại. Khi phối hợp với Bellerophon, tất cả các thuộc tính của Pegasus tăng lên 1 hạng. Những cái vỗ từ cánh của Pegasus có thể tạo ra những đợt sóng xung kích cực mạnh. Sự kết hợp với 1 sinh vật huyền thoại giúp Bellerophon có khả năng tranh danh hiệu NP vĩ đại nhất. Tên của NP này gợi đến hoàng tử Bellerophon, người đã thuần hóa 1 con Pegasus và tiêu diệt quái vật Chimera
Cảnh Rider thi triển Bellerophon khi đấu với Saber:
(còn nữa)